VIETSEC Thị trường chứng khoán Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư

Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư

TTCK là một kênh đầu tư tiềm ẩn nhiều rủi ro và phương pháp giảm thiểu rủi ro là đầu tư vào nhiều loại CK khác nhau hay đầu tư theo danh mục. Loạt bài viết này sẽ đưa ra một hướng tiếp cận để xây dựng danh mục đầu tư dựa trên khả năng chịu đựng rủi ro khác nhau.
Đừng bỏ tất cả trứng vào một rọ

Nhà đầu tư chơi CK luôn mong muốn lợi nhuận cao nhất mà rủi ro thua lỗ thấp nhất. Nếu dồn toàn bộ khoản tiền mình có vào một loại CP thì nguy cơ thua lỗ khi CP đó giảm giá là rất rõ ràng.

Nếu một khoản tiền được “rải” ra nhiều CP khác nhau thì tính tổng khoản đầu tư, việc thua lỗ của CP này khi giảm giá sẽ được bù đắp lại bằng khoản lãi của CP khác tăng giá. Đó chính là đa dạng hoá đầu tư để giảm thiểu rủi ro.

Quá trình đầu tư của một NĐT chuyên nghiệp hay các tổ chức đầu tư gồm hai bước chính: Phân tích thị trường và phân tích về CP để đánh giá rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của tất cả các loại CK có thể đầu tư; xây dựng danh mục đầu tư tối ưu bao gồm nhiều loại CK khác nhau.

Nếu có 2 CP có mức sinh lợi như nhau thì NĐT sẽ chọn loại có rủi ro thấp hơn. Tuy nhiên, mức độ chấp nhận rủi ro của từng người còn tương quan với lợi nhuận mà họ có thể nhận được.

Xác định “mức ngại rủi ro”

Mỗi NĐT đều có mức ngại rủi ro nhất định ở mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào tâm lý và khối lượng tiền sở hữu. Các nhà kinh tế học tài chính hiện đại đã xây dựng lý thuyết hàm hữu dụng biểu thị mối quan hệ hữu dụng của một đơn vị tiền tệ kiếm thêm với mức độ rủi ro của khoản đầu tư và mức ngại rủi ro của NĐT.

Với giả thiết này, họ đưa ra công thức cho mối tương quan rủi ro và mức đền bù rủi ro tương xứng. Mỗi NĐT phải gán một mức độ chấp nhận nào đó (hay giá trị hữu dụng) vào những danh mục đầu tư ngang nhau dựa trên lợi suất đầu tư ước tính và rủi ro của danh mục đó.

Từ đó, NĐT tính toán thang điểm để sắp xếp thứ tự danh mục đầu tư. Danh mục đầu tư hấp dẫn hơn là danh mục có mức rủi ro bằng hay thấp hơn danh mục khác, nhưng có lợi suất ước tính cao hơn.

Ví dụ, NĐT X lựa chọn giữa danh mục có rủi ro với tỉ suất lợi nhuận ước tính E (r)=23% và độ lệch chuẩn Y= 33,3% so với tín phiếu Kho bạc nhà nước có mức lãi giả thiết 5,5%, NĐT có mức ngại rủi ro A=3. Chúng ta thấy rằng mức đền bù rủi ro viết tắt là RS là:

RS=23-5,5=17.5%, đây là mức khá cao.

Ta có giá trị hữu dụng của danh mục:

(U) =23%-0,5x3x(33,3%)2=5%.

Con số 5% lại thấp hơn so với lãi suất tín phiếu Kho bạc nhà nước (5,5% theo giả thiết). Vậy về lý thuyết, NĐT sẽ mua tín phiếu thay vì lựa chọn danh mục trên. Mức đền bù rủi ro cho danh mục này với A=3 là 0,5AY2=18%.

Nhưng nếu NĐT X có mức ngại rủi ro A=2 thì ta có 0,5AY2=12%, khi đó U=22%-12%=10%, cao hơn lãi suất trái phiếu không rủi ro. Vậy với A=2 thì có thể chấp nhận danh mục này.

Công thức thể hiện mối tương quan giữa mức ngại rủi ro, lợi tức với mức rủi ro theo thang điểm hữu dụng:

U=E(r)-0,5A.Y2

U: Là giá trị hữu dụng; 0.5: Số quy ước theo thông lệ của xác suất thống kê; A: Chỉ số biểu thị mức ngại rủi ro; E(r): Lợi suất ước tính bình quân; Y: Độ lệch chuẩn của giá trị bình quân. 0,5A.Y2: Mức đền bù rủi ro.

Từ công thức có thể thấy giá trị hữu dụng tăng nếu lợi suất ước tính bình quân tăng, giá trị hữu dụng giảm nếu mức độ rủi ro tăng

 

Author: Big_hand

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *