VIETSEC Thị trường chứng khoán Phân biệt “giá trị” của cổ phiếu

Phân biệt “giá trị” của cổ phiếu

Giá trị của cổ phiếu luôn là vấn đề gây tranh cãi, không phải chỉ trên thị trường Việt Nam mà còn tại các thị trường khác trên thế giới. Bài viết dưới đây của tác giả nhằm góp một phần vào việc định nghĩa và phân biệt giữa các quan niệm khác nhau về giá trị, cũng như cách xác định chúng.

Giá trị – Thị giá.

Khi nói rằng “thị giá là những gi chúng ta bỏ ra, giá trị là những gì chúng ta nhận lại”, Warren Buffet – nhà đầu tư theo trường phái giá trị thành công nhất – đã tách biệt rõ giữa thị giá và giá trị. Nhưng nếu chúng ta cố tình “biện luận” và xảo ngôn, thì chúng ta sẽ dùng chính câu nói của Warren Buffet để đưa giá trị và thị giá về một. Giả sử ngày hôm nay chúng ta mua cổ phiếu A với thị giá 40, qua 10 ngày sau chúng ta bán với thị giá 43. Trong ví dụ trên, rõ ràng Giá trị – số tiền chúng ta nhận được từ việc bán cổ phiếu, theo định nghĩa của Warren Buffet – trong trường hợp này chính là thị giá. Lý luận trên hoàn toàn đúng, nó chỉ cố tình hiểu sai một ý còn lại không nói ra của Warren Buffet, đó là chúng ta phải nắm giữ cổ phiếu mãi mãi, hay rất dài hạn.

Như vậy, đối với các nhà đầu tư chỉ sỡ hữu cổ phiếu trong thời gian ngắn, thì giá trị của cổ phiếu chính là thị giá. Đây chính là quan điểm đầu tư của các nhà đầu tư theo các trường phái đầu tư sau: theo thông tin, phân tích kỹ thuật, cơ lợi, chỉ số thị trường. Nhà đầu tư theo trường phái thông tin, thì cho rằng tin tốt sẽ làm giá lên, tin xấu làm giá xuống. Nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật thì cho rằng, thị giá thể hiện tâm lý con người và lập lại theo những mô hình nhất định. Nhà đầu tư theo trường phái chỉ số thì lựa chọn những cổ phiếu tạo ra một danh mục có thị giá lên xuống theo như diễn biến của chỉ số.

Giá trị – Nội tại.

Nếu nắm giữ ngắn hạn, thì giá trị của cổ phiếu chính là thị giá, nắm giữ mãi mãi hay rất dài hạn, giá trị của cổ phiếu được gọi là Giá Trị Nội Tại (intrinsic value). Chữ nội tại cho thấy rõ rằng, đây là giá trị bên trong của cổ phiếu chứ không phụ thuộc vào yếu tố thị trường bên ngoài. Nói một cách khác, thị trường định giá cổ phiếu như thế nào là quyền của thị trường, nhưng cổ phiếu sẽ luôn cung cấp cho người sỡ hữu một giá trị nhất định. Giá trị đó không gì khác hơn chính là những dòng tiền mà người làm chủ cổ phiếu mãi mãi hay dài hạn sẽ được nhận. Chiết khấu những dòng tiền này về hiện tại sẽ cho ta giá trị nội tại của cổ phiếu đó. Nói thì đơn giản, nhưng để tính toán giá trị nội tại và ra quyết định đầu tư là một việc hết sức khó khăn, nhất là đối với thị trường Việt Nam lúc này. Việc đầu tiên nhà định giá cần làm là phải nghiên cứu cơ bản từ mội trường vĩ mô, cho đến nội tại của công ty. Phân tích đựơc lợi thế cạnh tranh, hướng đi tương lai, và sau đó nghiên cứu đến cơ cấu vận hành, các chỉ số tài chánh, từ đó mới có thể dự đoán được những dòng tiền trong tương lai. Thường thì chúng ta tính một trong 3 dòng tiền: (1) Dòng tiền cổ tức dành cho người sở hữu cổ phiếu, (2) Dòng tiền cho vốn chủ sỡ hữu của doanh nghiệp, (3) Dòng tiền dành cho cả doanh nghiệp. Sau đó phải xác định một chỉ số chiết khấu phù hợp dành cho chủ sỡ hữu công ty hay cổ phiếu. Công ty có mức độ rủi ro cao trong tương lai thì chỉ số chiết khấu phải cao hơn công ty có ít rủi ro. Riêng dòng tiền dành cho cả công ty, thì phải dùng chỉ số chiết khấu bình quân gia quyền của chi phí vốn chủ sỡ hữu và của vốn vay.

Còn có một cách xác định giá trị nội tại nữa đó là giả sử chúng ta không hoạt động công ty nữa mà bán tài sản công ty để thu tiền về. Dòng tiền mà người chủ sỡ hữu công ty được hưởng sẽ là dòng tiền một lần dựa vào giá trị thị trường của các tài sản hữu hình thuần (trừ nợ), cộng với các tài sản vô hình, đặc biệt là thương hiệu,

Việc xác định và dự báo những dòng tiền trên, cũng như chỉ số chiết khấu, tuy dựa vào những phương pháp và phân tích cơ bản giống nhau, nhưng do nhận định chủ quan của mỗi người khác nhau, kết quả cũng sẽ khác nhau. Nhà đầu tư giá trị thành công sẽ là người dự đoán chính xác hay gần chính xác nhất giá trị nội tại của cổ phiếu. Khi đã tìm ra giá trị này rồi, thì nhà đầu tư giá trị sẽ chờ khi thị trường mắc sai lầm khi định giá thấp cổ phiếu – thị giá thấp hơn giá trị nội tại – để mua vào và nắm giữ dài hạn.

Giá trị – Tương quan.

Đây là một phương pháp so sánh giá trị tương quan giữa các cổ phiếu gần giống nhau để tìm ra cổ phiếu nào có giá trị tương quan cao hơn. Chỉ số tương quan có tử số là Thị giá (P – Price), còn mẫu số là một trong những số sau: thu nhập/lợi nhuận (E), giá trị sổ sách của tài sản (BV– Book Value), doanh số (S-Sales)… Trong đó, PE là chỉ số tương quan thông dụng nhất, nó cho thấy chúng ta phải bỏ bao nhiêu đồng thị giá, để mua một đồng lợi nhuận. Những công ty cùng ngành, hay có tính chất, quy mô giống nhau, thường là sẽ có PE giống nhau. Những nhà đầu tư theo trường phái giá trị tương quan sẽ đầu tư vào những cổ phiếu có có PE thấp hơn PE tương quan, trong khi đó những nhà đầu tư tăng trưởng sẽ đầu tư vào cổ phiếu có PE hiện tại cao, nhưng tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai cao.
Nói tóm lại, tuỳ vào quan điểm của nhà đầu tư, “giá trị” của một cổ phiếu có thể là thị giá, cũng có thể là giá trị nội tại, cũng có thể là giá trị so sánh tương quan giữa các loại cổ phiếu. Điều quan trọng là nhà đầu tư phải có một quan điểm nhất quán trong định nghĩa “giá trị” của mình, và quan trọng hơn nữa, nhà đầu tư phải biết cách dự đoán và tính toán “giá trị” của cổ phiếu thì mới có thể chiến thắng trong “cuộc chơi” đầu tư – một cuộc chơi có nhiều phần thưởng nhưng cũng không ít rủi ro.

 

Author: Chaos

1 bình luận về “Phân biệt “giá trị” của cổ phiếu”
Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *