VIETSEC Thị trường chứng khoán Khuyến nghị MUA Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi – QNS (UpCOM)

Khuyến nghị MUA Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi – QNS (UpCOM)

Chúng tôi đã đến thăm nhà máy ở Bình Dương, và đây là những ghi nhận chính của chúng tôi từ chuyến đi:

Chuyến thăm nhà máy: Nhà máy đi vào hoạt động từ tháng 11/2016. Công suất thiết kế là 90 triệu lít sữa đậu nành/năm trong giai đoạn đầu, và các máy móc thiết bị tại nhà máy được thiết kế để sản xuất với công suất gấp đôi là 180 triệu lít/năm trong thời gian tới. Công suất sử dụng cho toàn bộ nhà máy hiện chỉ đạt 45%, nhưng diện tích nhà máy phân bổ cho dây chuyền sản xuất của Fami đã lấp kín. Nhà máy Bình Dương ở giai đoạn này chỉ tập trung vào sản xuất những sản phẩm bán chạy nhất là Fami và Fami Canxi (hộp dung tích 220ml và 1 lít).

Hiện tại, công ty con của QNS – Vinasoy có 3 nhà máy sữa đậu nành, với tổng công suất 390 triệu lít / năm. Nhà máy Quảng Ngãi (120 triệu lít / năm) và Bắc Ninh (180 triệu lít / năm) hiện đang hoạt động với công suất 80-85%.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, tổng sản lượng sữa đậu nành đạt 137 triệu lít (+ 5% YoY), và Vinasoy vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng 10%. Khu vực cung cấp đậu nành tập trung ở tỉnh Đắc Nông, QNS ký hợp đồng hàng năm với nông dân để đảm bảo nguồn cung. Nguồn cung trong nước đáp ứng 80% nhu cầu nguyên liệu đầu vào, phần còn lại được nhập khẩu từ Canada và Hoa Kỳ. Theo ban lãnh đạo, giá đậu nành trong nước thường cao hơn 20-30% so với đậu nành nhập khẩu (do sản lượng trồng ở Việt Nam thấp) nhưng đậu nành trong nước lại tươi hơn với hương vị phong phú hơn. Tổng cộng Vinasoy có 06 SKUs (thương hiệu Fami: Fami Canxi, Fami Kid, thương hiêu Vinasoy: Vinasoy truyền thống và Vinasoy mè đen), trong đó thương hiệu Fami chiếm khoảng 80% lượng tiêu thụ.

Thị trường sữa đậu nành

Việt Nam đứng thứ 3 trong 10 nước tiêu thụ sữa đậu nành hàng đầu thế giới về tổng lượng tiêu thụ và đứng thứ 7 về lượng tiêu thụ bình quân đầu người. Tại thị trường trong nước, sữa đậu nành được nghiên cứu tại phòng thí nghiệm chiếm 46% tổng khối lượng trong năm 2016 và ước tính chiếm 50% khối lượng toàn thị trường trong năm 2018. Trong giai đoạn 2010-2018, tăng trưởng CAGR về khối lượng tiêu thụ sữa đậu nành thương hiệu ước tính tăng trưởng ở mức 17% so với sữa đậu nành lỏng 5,7%. Đến cuối năm 2016, thị phần của Vinasoy đạt 37,5% thị trường chung sữa đậu nành và 84,5% tại phân khúc sữa đậu nành có thương hiệu.

Kết quả kinh doanh sơ bộ 6T2017: Doanh thu ước tính tăng 18% YoY, đạt 3.930 tỷ đồng, với lợi nhuận ròng ước đạt 480 tỷ đồng (-2% YoY). Lợi nhuận ròng giảm nhẹ so với dự báo của chúng tôi, vì giá đường thấp hơn và chi phí khấu hao tăng lên từ nhà máy sữa đậu nành ở Bình Dương sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của QNS. Từ đầu năm đến nay, Vinasoy vẫn giữ nguyên giá bán

Việc mở rộng nhà máy đường An Khê và nhà máy điện sinh khối sẽ bắt đầu vào tháng 10/2017 thay vì kế hoạch ban đầu là vào tháng 4/2017. Nếu nhà máy đường và nhà máy điện sinh khối hoàn thành đúng tiến độ, có thể sẽ giúp nhà đầu tư lấy lại niềm tin đối với cổ phiếu QNS.

QNS sẽ tạm ứng cổ tức năm 2017 tỷ lệ 5%/mệnh giá vào ngày 16/08/2017.

Dự báo KQKD và quan điểm đầu tư

Chúng tôi điều chỉnh nhẹ dự báo KQKD của QNS trong năm 2017 sau khi thay đổi giả định về tăng trưởng sản lượng đường từ 3% lên 6%. Doanh thu thuần và lợi nhuận ròng của QNS năm 2017 ước đạt tương ứng 7.546 tỷ đồng (+8,2% YoY) và 1.328 tỷ đồng (-6% YoY).

Dù kết quả kinh doanh không được khả quan trong năm nay nhưng về dài hạn, chúng tôi cho rằng QNS có thể sẽ tăng trưởng trở lại từ năm 2018 trở lại dựa trên:

  • Với việc nhà máy sữa đậu nành ở Bình Dương đã đi vào hoạt động, tổng lượng sữa đậu nành có thể tăng ít nhất 10%/năm cùng với việc tập trung vào hoạt động tiếp thị. Xu hướng tăng tiêu thụ sữa đậu nành có thương hiệu tại Việt Nam với quy mô thị trường còn nhiều cơ hội để phát triển (sữa đậu nành có thương hiệu chiếm 44% tổng tiêu thụ sữa đậu nành ở Việt Nam vào năm 2016, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan: 85%, Malaysia: 52%), đây sẽ là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng cho Vinasoy.
  • Doanh thu và lợi nhuận tăng thêm từ phân khúc điện, ước tính khoảng 100-200 tỷ đồng/năm.
  • Sản lượng tiêu thụ đường hằng năm tăng lên gấp ~4 lần, lên đến 500.000 – 600.000 tấn đường vào năm 2020 (so với 140.000 -150.000 tấn vào năm 2017), dù vậy tình hình cạnh tranh ngày càng tăng từ các sản phẩm nhập khẩu vẫn đáng lo ngại, đặc biệt là tác động từ việc xóa bỏ thuế quan của thuế suất nhập khẩu trong Hiệp định tự do thương mại ASEAN (từ 5% xuống 0%) bắt đầu từ năm 2018 trở đi.

Trong năm 2018, chúng tôi ước tính tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần và lợi nhuận ròng sẽ đạt tương ứng 13,1% và 9% YoY nhờ lợi nhuận từ đường, sữa đậu nành và điện gia tăng.

Trong giai đoạn 2018-2022, chúng tôi ước tính tăng trưởng CAGR của doanh thu thuần và lợi nhuận trước thuế sẽ đạt lần lượt là 9,5% và 9,2%.

Khuyến nghị

Ở mức giá hiện tại, QNS đang giao dịch ở mức PE 2017 là 12,6x và PE 2018 là 11,4x, khá hấp dẫn theo quan điểm của chúng tôi. Giá mục tiêu 1 năm chúng tôi đưa ra cho cổ phiếu QNS là 98.200 đồng / cổ phiếu dựa trên PE mục tiêu là 15,8x (PE phân khúc đường: 8x, PE phân khúc khác: 17x) và mô hình định giá DCF (WACC: 12,71%, terminal growth rate: 3%), tăng 21% so với giá hiện tại. Chúng tôi tiếp tục khuyến nghị MUA tại mức giá thị trường hiện tại.

Cơ hội và rủi ro đối với khuyến nghị:

  • Cơ hội tăng giá: Tăng trưởng về khối lượng khả quan, cùng với giá đường cao hơn.
  • Rủi ro giảm giá: Tăng trưởng khối lượng kém khả quan (đường, …) do điều kiện thời tiết không thuận lợi, thiếu nguồn cung mía, giá đường sụt giảm, và chi phí quản lý doanh nghiệp cao
  • Yếu tố phụ thuộc: Nhà máy đường và nhà máy điện sinh khối hoàn thành đúng tiến độ (tháng 10/2017).
 

Author: Big_hand

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *