VIETSEC Thị trường chứng khoán CTG – Chất lượng tài sản được cải thiện, triển vọng kinh doanh ổn định

CTG – Chất lượng tài sản được cải thiện, triển vọng kinh doanh ổn định

Cập nhật kết quả kinh doanh 2016: Kết thúc năm 2016, CTG vươn lên giành vị trí quán quân về lợi nhuận trong hệ thống ngân hàng với 6.805 nghìn tỷ đồng, tăng 19,4% so với năm ngoái. Tín dụng và huy động tăng mạnh, lần lượt tăng 23% và 32,8%; nhờ đó khả năng thanh khoản được cải thiện đáng kể (LDR theo cách tính thông thường giảm từ 109,2% năm ngoái xuống còn 101,2%)
Triển vọng ổn định trong năm 2017: Chúng tôi ước tính LNTT của Vietinbank năm 2017 đạt 9.078 tỷ đồng, tăng 6,4% so với năm 2016. EPS 2017 dự phóng 1.870 đồng, BVPS 2017 ước đạt 17.273 đồng. Dự phóng NH tiếp tục chi trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 8%.
Định giá: Ở mức giá hiện tại cổ phiếu CTG đang được giao dịch với định giá P/B 2016 là 1,07x và P/B 2017E là 0,97x. Chúng tôi cho rằng trong bối cảnh tăng trưởng ổn định và chất lượng tài sản được cải thiện, kỳ vọng P/B mục tiêu sẽ ở mức 1,2x. Giá mục tiêu 1 năm được điều chỉnh từ 20.000 đồng/cp lên 20.700 đồng/cp (cao hơn 15% so với mức hiện tại). Vì vậy chúng tôi tiếp tục giữ khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu CTG.
Trong ngắn hạn chúng tôi cũng lưu ý những sự kiện có thể xảy ra ảnh hưởng đến giá cổ phiếu như: khả năng tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, và khả năng CTG sẽ sáp nhập thêm một NH nữa trong năm sau.
 

Author: Big_hand

3 bình luận về “CTG – Chất lượng tài sản được cải thiện, triển vọng kinh doanh ổn định”
  1. Theo kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh công bố tại báo cáo, 32 ngân hàng thương mại Việt Nam được xếp thành 4 nhóm A, B, C, D; ứng với các mức độ:

    A: Ngân hàng có năng lực cạnh tranh cao, là các tổ chức với sức mạnh thị trường lớn, năng lực tài chính ổn định, hoạt động kinh doanh hiệu quả và tiềm năng phát triển dài hạn.

    B: Ngân hàng có khả năng cạnh tranh khá, là các ngân hàng có sức mạnh thị trường tốt, có năng lực tài chính hợp lý và hoạt động kinh doanh ổn định với tiềm năng phát triển tốt.

    C: Ngân hàng có năng lực cạnh tranh trung bình, có sức mạnh thị trường hạn chế nhưng đem lại giá trị cho ngân hàng. Ngân hàng có năng lực tài chính chấp nhận được và hoạt động kinh doanh ổn định, hoặc có năng lực tài chính tốt với hoạt động kinh doanh kém ổn định hơn.

    D: Ngân hàng có năng lực cạnh tranh hạn chế. Những ngân hàng này thường bị hạn chế bởi một hoặc nhiều hơn những yếu tố sau: mạng lưới kinh doanh yếu, sức mạnh thị trường yếu; năng lực tài chính chấp nhận được; và hoạt động kinh doanh kém ổn định.

    Trong số 32 ngân hàng thương mại Việt Nam đánh giá, kết quả xếp hạng trên phân định 9 ngân hàng thuộc hạng A, 9 ngân hàng thuộc hạng B, 11 ngân hàng thuộc hạng C và có 3 ngân hàng thuộc hạng D.

    Cụ thể, nhóm A gồm: ACB, BIDV, DongA Bank, Eximbank, MB, Sacombank, Techcombank, Vietcombank và VietinBank.

    Nhóm B gồm: Bac A Bank, HDBank, Maritime Bank, OCB, Saigonbank, Southern Bank, PG Bank, VIB và VietABank.

    Nhóm C gồm: ABBank, Baoviet Bank, DaiABank, Habubank (vừa sáp nhập vào SHB),Kienlong Bank, MHB, NamABank, Navibank, OceanBank, SHB, VPBank.

    Nhóm D gồm: MDB, VietBank và Wesrtern Bank.

    Báo cáo và kết quả xếp hạng chỉ đưa ra kết quả đối với 32 ngân hàng, một số thành viên khác như SCB, TienPhong Bank, LienVietPostBank, TrustBank, GP. Bank… không có tên trong danh sách.




    0



    0
Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *