VIETSEC Thị trường chứng khoán Cập nhật thay đổi 2 quỹ ETF và 6 cổ phiếu cần lưu ý trong năm 2018

Cập nhật thay đổi 2 quỹ ETF và 6 cổ phiếu cần lưu ý trong năm 2018

1. db x-trackers FTSE Vietnam UCITS ETF

Chiều ngày 1/9, FTSE đã công bố kết quả rà soát danh mục cho bộ chỉ số FTSE Vietnam Index Series kỳ tháng 9/2017 với kết quả như sau:

FTSE Vietnam Index FTSE Vietnam All-Share Index
Thêm vào Loại ra Thêm vào Loại ra
PLX SAB VHC
PLX
VJC
HT1
QCG

Kết quả này không nằm ngoài tính toán của chúng tôi. Quỹ DB FTSE ETF sẽ thực hiện tái cơ cấu danh mục trong tuần từ ngày 11-15/9. Chúng tôi tạm tính khối lượng giao dịch mà quỹ cần thực hiện với giá cập nhật ngày 1/9 như bảng dưới đây. Trong đó, PLX dự kiến được mua vào khoảng 1.8 triệu cổ phiếu.

CP

Tỷ trọng mới

Tỷ trọng hiện tại

+/-

+/- cổ phiếu

VNM

15.00%

14.27%

0.73%

256,925

VIC

15.00%

15.92%

-0.92%

-992,214

HPG

12.25%

12.81%

-0.56%

-856,965

MSN

11.62%

12.11%

-0.49%

-540,390

VCB

6.52%

5.36%

1.16%

1,655,117

ROS

6.03%

5.42%

0.61%

290,255

NVL

5.63%

6.31%

-0.68%

-602,152

SBT*

3.39%

3.23%

0.16%

586,110

SSI

3.32%

4.42%

-1.10%

-2,334,006

STB

3.11%

3.25%

-0.14%

-631,634

HSG

2.42%

2.27%

0.15%

276,702

PLX

2.30%

0.00%

2.30%

1,842,750

CII

2.24%

2.45%

-0.20%

-309,533

HBC

1.67%

1.44%

0.23%

211,527

KBC

1.65%

1.59%

0.06%

204,773

DPM

1.56%

1.85%

-0.29%

-653,890

DXG

1.31%

1.42%

-0.11%

-278,833

PVD

1.28%

1.32%

-0.03%

-135,104

FLC

1.22%

1.36%

-0.14%

-954,846

GTN

0.99%

1.61%

-0.62%

-2,070,992

ITA

0.82%

0.94%

-0.12%

-1,600,118

ASM

0.65%

0.67%

-0.02%

-77,841

(*) SBT sau sáp nhập với BHS

Ngày 8/9, MVIS đã công bố kết quả rà soát danh mục chỉ số MVIS Vietnam Index. Kết quả khá sát với dự báo của chúng tôi với kịch bản thứ 2:

  • Loại FLC, tương đương với việc bán ra toàn bộ 13.1 triệu cổ phiếu hiện đang nắm giữ
  • Thêm vào HBC với tỷ trọng 1.53%, đồng nghĩa với việc quỹ VNM ETF sẽ mua vào khoảng 1.8 triệu cp
  • Tỷ trọng SBT khá cao so với ước tính trước đó của chúng tôi do MVIS tính khối lượng cổ phiếu tự do lưu hành bao gồm cả lượng cổ phiếu SBT phát hành để hoán đổi với BHS, trong khi trên thực tế lượng cổ phiếu này chưa hoàn tất thủ tục để được giao dịch trên thị trường (dự kiến khoảng 3 tháng sau ngày đăng ký cuối cùng)

Danh mục chỉ số mới sẽ có hiệu lực sau ngày 15/9, như vậy cả hai quỹ cần phải thực hiện tái cơ cấu danh mục trong tuần này, nhiều khả năng giao dịch sẽ tập trung chủ yếu vào ngày thứ 6 15/9. Chúng tôi ước tính khối lượng giao dịch hai quỹ cần thực hiện với giá cập nhật như sau:

2. VanEck Vectors Vietnam ETF (VNM ETF)

CP

Giá

Tỷ trọng mới

Tỷ trọng hiện tại

+/-

+/- USD

+/- cổ phiếu

KL đang nắm giữ

1

VNM

149,100

8.00%

7.37%

0.63%

$1,872,252

285,446

3,316,970

2

VIC

50,600

8.00%

9.39%

-1.39%

-$4,105,841

-1,844,545

12,458,802

3

ROS

119,300

7.00%

6.66%

0.34%

$1,003,437

191,200

3,748,248

4

NVL

60,000

6.50%

5.73%

0.77%

$2,272,501

860,975

6,412,610

5

MSN

53,200

6.00%

6.39%

-0.39%

-$1,161,454

-496,281

8,063,900

6

VCB

37,700

5.50%

5.62%

-0.12%

-$342,329

-206,414

10,002,852

7

SBT

30,550

5.00%

3.96%

1.04%

$3,084,380

2,295,061

8,693,895

8

SSI

24,950

4.50%

4.18%

0.32%

$930,871

848,119

11,264,221

9

HPG

35,950

4.32%

5.09%

-0.78%

-$2,296,133

-1,451,897

9,513,718

10

BVH

55,100

3.23%

3.21%

0.01%

$38,448

15,862

3,911,946

11

VCG

20,700

3.01%

2.92%

0.09%

$268,965

295,367

9,464,697

12

STB

11,650

2.49%

3.11%

-0.62%

-$1,819,419

-3,550,132

17,910,022

13

HAG

8,410

2.25%

2.18%

0.07%

$206,342

557,737

17,448,524

14

KDC

41,950

2.13%

2.15%

-0.02%

-$62,317

-33,768

3,439,490

15

DPM

23,100

2.02%

2.04%

-0.02%

-$65,542

-64,497

5,931,090

16

NT2

25,300

1.70%

1.47%

0.23%

$676,209

607,573

3,911,729

17

HSG

28,650

1.63%

1.48%

0.15%

$443,976

352,268

3,475,437

18

HBC

57,100

1.53%

0.00%

1.53%

$4,507,199

1,794,355

19

FLC

7,570

0.00%

1.48%

-1.48%

-$4,366,859

-13,115,222

13,115,222

 

TOP 6 CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG MẠNH TRỞ LẠI TỪ 2018

Team Retail Research xin gửi đến các Anh/Chị điểm nhấn đầu tư của 6 cổ phiếu bao gồm DHC, HT1, SBV, PVT, PC1, NT2 – đây là nhóm cổ phiếu được ước tính sẽ tăng trưởng mạnh trở lại từ năm 2018. Trong năm 2017, giá cổ phiếu của nhóm này chưa có chuyển biến đáng kể do tăng trưởng lợi nhuận kém khả quan, tác động từ việc công ty đã tối đa công suất (DHC, SBV, PC1) hoặc gặp các điều kiện không thuận lợi tạm thời (HT1, PVT, NT2). Các yếu tố thúc đẩy triển vọng tăng trưởng trở lại ở nhóm này trong năm 2018 được nhìn thấy rõ vì vậy thời điểm hiện tại là cơ hội mua vào với mức giá rẻ cho mục tiêu đầu tư dài hạn.

DHC

2017: Ước tính doanh thu tăng khiêm tốn (702 tỷ, +5%), và lợi nhuận ròng tăng trưởng âm (71.9 tỷ, -16.1%) do:

  • Sản lượng tăng hạn chế do Nhà máy Giấy Giao Long giai đoạn 1 đã vận hành hết công suất (60.000 tấn/năm)
  • Đang tập trung xây dựng Nhà máy Giấy Giao Long giai đoạn 2 (công suất ~200.000 tấn/năm), tổng mức đầu tư tăng từ 720 tỷ lên 1.080 tỷ (+44%)
  • Chi phí bán hàng tăng để chuẩn bị cho nhà máy mới
  • Giá giấy tái chế tăng làm giảm biên lợi nhuận
  • Thu nhập lãi giảm

2018: Dự báo tăng trưởng trở lại (doanh thu +99% đạt 1.399 tỷ, lợi nhuận ròng +97% đạt 142 tỷ) nhờ:

  • Nhà máy Giấy Giao Long 2 dự kiến đi vào hoạt động từ tháng 7/2018 và sẽ tạo doanh thu và đạt công suất 70% trong 6 tháng cuối năm 2018 (điểm hòa vốn ở mức công suất 42%)
  • Nhu cầu bao bì trong nước tăng trưởng nhanh đi cùng với tăng trưởng của tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, sự phát triển của thương mại điện tử cũng như tiềm năng xuất khẩu giấy công nghiệp

Với ước tính EPS 2017 đạt 2.811VND, DHC đang giao dịch ở mức PE 2017 là 11.9x, thấp hơn so với thị trường do triển vọng lợi nhuận giảm trong năm 2017 và thanh khoản ở mức khiêm tốn. Sang năm 2018 khi nhà máy Giao Long 2 đi vào hoạt động, công ty dự kiến sẽ đạt tăng trưởng ấn tượng với EPS 2018 ước đạt 5.548VND, tương đương PE 2018 là 6.0x ở mức giá hiện tại là khá hấp dẫn.

Công ty dự kiến sẽ phát hành thêm 8.9 triệu cp bao gồm: (2) 10% (2.6 triệu cp) để trả cổ tức năm 2016; (2) 20% (5.1 triệu cp) phát hành cho cổ đông hiện hữu, và (3) 4.95% (1.2 triệu cp) ESOP để bổ sung vốn cho nhà máy Giao Long 2.

Rủi ro: tiến độ nhà máy Giao Long 2 chậm hơn dự kiến


HT1

2017: Ước tính kết quả kinh doanh kém khả quan với doanh thu tăng nhẹ (8.643 tỷ, +4.9%) và lợi nhuận ròng giảm (616 tỷ, -24.2%):

  • Tốc độ xây dựng chậm hơn dự kiến do mùa mưa kéo dài bất thường và giá cát tăng cao ảnh hưởng tiến độ xây dụng nhiều dự án
  • Tình trạng dư cung trong ngành khiến áp lực cạnh tranh tăng cao
  • Biên lợi nhuận sụt giảm do (1) giá than tăng trong khi giá bán xi măng vẫn ổn định và (3) đóng cửa trạm nghiền Thủ Đức làm gia tăng tỷ trọng thuê ngoài
  • Lỗ tỷ giá tăng lên 75 tỷ trong Q2/2017 (so với lãi 30 tỷ trong Q2/2016) do khoản vay 43.6 triệu EUR trong bối cảnh tỷ giá EUR/VND tăng mạnh. Dự kiến lỗ tỷ giá có thể tăng thêm 50 tỷ trong 6 tháng cuối năm.

2018: Kỳ vọng tăng trưởng trở lại với doanh thu +5% và lợi nhuận ròng +13.4% lên 699 tỷ.

  • Chi phí tài chính giảm do (1) tỷ giá dự kiến ổn định hơn, (2) công ty tích cực thanh toán nợ
  • Mặc dù thị trường xi măng diễn biến kém tích cực, HT1 vẫn tăng trưởng nhanh hơn thị trường và củng cố vị thế hàng đầu trong khu vực phía Nam với 32% thị phần trong 6T2017 so với 30.1% trong 6T2016
  • Dự án bất động sản ở Thủ Đức có thể là yếu tố tích cực hỗ trợ cổ phiếu

Định giá của HT1 hiện khá thấp so với các công ty cùng ngành, với PE và PB 2017 là 11.2x và 1.1x, PE và PB 2018 là 9.9x và 1x.

Rủi ro: biến động tỷ giá theo hướng không thuận lợi


SBV

2017: Doanh thu ước tăng 20% đạt 614 tỷ, LNTT ước tính chỉ tăng nhẹ +0.2% đạt 131 tỷ, tương ứng biên lợi nhuận 21.4%, thấp hơn mức 25.8% của năm 2016 do:

  • Giá nguyên liệu tăng: EIA dự báo giá dầu thô năm 2017 bình quân ở mức 50.18 USD/thung, +17% yoy, tương ứng giá hạt nhựa có thể tăng 12% yoy, ảnh hưởng trực tiếp giá đầu vào của SBV. Tuy nhiên với vị thế dẫn đầu nhờ thị phần lớn trong phân khúc đánh bắt xa bờ và chất lượng sản phẩm vượt trội, SBV có nắm lợi thế về giá nên giá nguyên liệu tăng có thể không ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận
  • 3 nhà máy của SBV đang vận hành gần hết công suất tối đa với tổng sản lượng 7.500 tấn/năm.

2018: Doanh thu của SBV ước tính đạt 716 tỷ và LNTT ước tăng mạnh 20.6% lên 158 tỷ do:

  • Nhà máy mới dự kiến sẽ đi vào hoạt động trong tháng 10, nâng tổng công suất thiết kế thêm 3.000 tấn/năm. Dự kiến nhà máy mới có thể đạt công suất 50% trong năm 2017 và đạt công suất tối đa trong năm 2018.
  • Nhà máy mới sẽ được hưởng chính sách miễn thuế TNDN trong 3 năm

Tại mức giá hiện tại 42.000đ/cp, SBV đang giao dịch ở PE 2017 7.3x và PE 2018 5.9x là mức định giá khá hấp dẫn.

Rủi ro: giá đầu vào biến động theo giá dầu, tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào một số ít nhà phân phối lớn.


PVT

2017: KQKD hợp nhất của PVT trong 6 tháng đầu năm 2017 giảm cả về doanh thu và lợi nhuận so với cùng kỳ do việc bảo dưỡng nhà máy Dung Quất diễn ra trong quý 2/2017 (nằm trong kế hoạch), dẫn đến khối lượng công việc cho PVT giảm. Trong 6 tháng đầu năm 2017, PVT đạt 3.022 tỷ đồng doanh thu (-7,5% YoY) và 241 tỷ đồng LNTT (-21% YoY). Như vậy, PVT đã hoàn thành 60% kế hoạch LN năm và đạt 48% so với dự báo của chúng tôi cho năm 2017. Ước tính LNTT năm 2017 của PVT có thể đạt 405 tỷ đồng, giảm 15,7% so với năm trước.

2018: Năm 2018, dự báo lợi nhuận trước thuế năm 2018 sẽ tăng trở lại 36% YoY, đạt 689 tỷ đồng nhờ đóng góp doanh thu từ hoạt động vận tải sẽ tăng đáng kể 160% YoY do cơ sở so sánh thấp trong năm 2017 và lợi nhuận tạo ra bởi NSR trong năm 2018.

Hiện tại, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đang quay trở lại sản xuất với hiệu suất sử dụng công suất 110% để bù đắp cho thời gian nghỉ hoạt động, do đó PVT đã trở lại hoạt động bình thường. PVT đang giao dịch tại PE dự phóng 2017 và 2018 lần lượt là 13x và 9,5x, là mức định giá thấp so với triển vọng tăng trưởng mạnh từ năm 2018 (+36% YoY trong năm 2018 và +23% YoY vào năm 2019).


PC1

2017: Trong 6 tháng đầu năm 2017, doanh thu của PC1 đạt 1.383 tỷ đồng (-12% YoY) và đạt 39% kế hoạch năm. Lợi nhuận thuần thấp, ở mức 122 tỷ đồng (-40% YoY) hoàn thành 40% kế hoạch năm do thiếu vắng doanh thu từ bất động sản (tuy nhiên khá sát với kế hoạch của công ty).

Doanh thu từ bất động sản trong kỳ giảm 99% YoY và dự kiến sẽ ở mức thấp nhất vào năm 2017. Trong năm 2017, PC1 sẽ không ghi nhận doanh thu từ dự án Mỹ Đình 2 do việc xây dựng các dự án vẫn đang được tiến hành. Công ty ước tính dự án có thể đạt doanh thu 1.200 tỷ đồng vào năm 2018.

Năm 2017 doanh thu mảng xây lắp điện sẽ tăng mạnh dựa trên lượng dự án chưa thực hiện của PC1 cao (đạt 3,2 nghìn tỷ đồng và dự kiến sẽ tăng thêm 1,2 tỷ đồng vào cuối năm 2017). Do đó, ước tính doanh thu và lợi nhuận thuần được duy trì ước tính đạt 2.959 tỷ đồng (- 1,6% YoY) và 313 tỷ (+ 2,3% YoY).

Trong quý 3 năm 2017, PC1 có thể sẽ phát hành 17,6 triệu cổ phiếu (18% tổng số cổ phiếu đang lưu hành) thông qua việc chào bán riêng lẻ cho một số nhà đầu tư. Số tiền thu được (khoảng 23-24 triệu USD) sẽ được sử dụng để tài trợ vốn cho các dự án thủy điện Bảo Lâm 4 và Bảo Lâm 2A (48MW).

2018: Năm 2018 doanh thu và lợi nhuận thuần của PC1 sẽ tăng lên tương ứng 4.179 tỷ đồng (tăng 41% YoY) và 492 tỷ đồng (57% YoY) và EPS đạt 3.961 đồng (64,4% YoY). Phần lớn tăng trưởng sẽ đến từ các dự án bất động sản và thủy điện nhờ dự án Mỹ Đình 2 Plaza và hai nhà máy điện mới được bổ sung vào cuối năm 2017.

PC1 đang giao dịch tại PE 2017 và 2018 là 14,9x và 9x, đã tính đến rủi ro pha loãng.


NT2

2017: NT2 đã ghi nhận KQKD không mấy tích cực trong quý 2/2017 với doanh thu và lợi nhuận ròng đạt lần lượt 1.781 tỷ đồng (+13,9% YoY) và 190 tỷ đồng (-50% YoY). Sản lượng đầu ra đạt 1.427,4 triệu kWh trong quý 2/2017, giảm 22% so với cùng năm trước vì mưa lớn đầu năm 2017. Tuy nhiên, sự sụt giảm mạnh về lợi nhuận là do ghi nhận lỗ tỷ giá 129 tỷ đồng từ khoảng nợ bằng đồng EUR so với khoản lãi 49,4 tỷ đồng trong quý 2 năm 2016.

Trong quý 3/2017, do NT2 bảo trì các tổ máy trong 1 tháng rưỡi nên sản lượng đầu ra cũng sẽ thấp và sau đó tăng trở lại trong quý 4 vì quý 4 là mùa cao điểm trong năm của NT2.

Ước tính doanh thu và lợi nhuận ròng 2017 của NT2 đạt mức lần lượt là 6.422 tỷ đồng và 882 tỷ đồng, giảm lần lượt 20% và 18,7% so với năm 2016 do sự sụt giảm về sản lượng sản xuất

2018: Sản lượng sản xuất điện sẽ tăng 7% và NT2 không phải bảo trì trong năm 2018. Theo đó, doanh thu năm 2018 có thể đạt 6.975 tỷ đồng (+8,6%) và lợi nhuận ròng có thể tăng mạnh trở lại, đạt 1.112 tỷ đồng (+26% YoY). EPS trong năm 2018 đạt 3.721 đồng.

NT2 hiện đang giao dịch tại PE dự phóng 2017 và 2018 tương ứng là 8,6x và 6,8x, mức định giá thấp. NT2 có tỷ suất cổ tức khá cao và ổn định nhờ ROE cao trong số các công ty điện đang niêm yết (18-20% so với 10-12% của PPC và VSH). Theo PVN Power, NT2 khó có thể góp vốn vào những dự án NT3+4do đó có khả năng chi trả cổ tức cao cho những năm tiếp theo.

 
, , ,

Author: Big_hand

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *