VIETSEC Thị trường chứng khoán 80 sai lầm của nhà đầu tư nhỏ lẻ – Phần 6 – Quy tắc cắt lỗ

80 sai lầm của nhà đầu tư nhỏ lẻ – Phần 6 – Quy tắc cắt lỗ

1. Mua bình quân giá giảm. Mất chi phí cơ hội nếu thị trường điều chỉnh sâu. Cái chết cầm chắc nếu suy thoái thật sự

Cháu tôi hỏi ngược lại tôi:

Bác hình dung thế này nhé, bác đang đi xe trên đường, gặp một con dốc đi xuống, sương mù dày đặc không rõ đường đi phía trước, xe lao ngày càng nhanh. Bác sẽ dừng xe lại hay cứ lao xuống hy vọng đầu bên kia sẽ có con dốc vòng lên?”

Tôi trả lời ngay không suy nghĩ:

Dừng lại chứ đi tiếp có mà chết à

Bác đi hỏi thêm nhiều người nữa xem câu trả lời thế nào nhé.

Mấy hôm sau tôi gọi điện cho cháu trai:

Ai cũng trả lời là sẽ dừng xe lại

Vậy tại sao khi bắt đầu lỗ mà chưa biết thị trường sẽ đi xuống tới đâu, bác không dừng lại (stop loss)?

Vì bác thấy những người chịu đựng kiên cường rồi vẫn có lãi cả đấy thôi”

Vâng, thực tế diễn ra như vậy. Nhưng có điều này mọi người khi đã lỗ rồi luôn cố tình đánh lừa mình và cố tình không hiểu. Khi thị trường điều chỉnh sâu, những người stop loss đúng lúc sau đó quay lại khi thị trường phục hồi thật sự luôn lãi gấp nhiều lần những người cắn răng chịu lỗ. Khi thị trường suy thoái, những người stop loss đúng lúc là những người còn tồn tại, những người cắn răng chịu lỗ là những người đi về nơi xa lắm”

Tôi vẫn cố tình không hiểu:

Sao tây vẫn mua vào? Sao nó không bán hết đi?”

2. Các định chế tài chính hành động khác biệt đôi chút so với nhà đầu tư cá nhân do quy mô vốn quá lớn nhưng vẫn tuân thủ quy tắc stop loss

  • “Họ vẫn tuân thủ quy tắc stop loss đấy bác ạ. Vì bác không hiểu quy trình của họ nên nghĩ thế thôi. Cháu sẽ nói rõ cho bác đây. Vì họ quy mô vốn rất lớn nên họ sẽ stop trước khi loss, còn chúng ta thì sao? Loss rồi mới chịu stop, thậm chí còn không chịu stop.Khi thị trường theo đánh giá của họ là đã rất nóng, họ sẽ điều tiết giảm mua vào. Và điều tiết bán ra theo cả hai phía của đỉnh tăng trưởng. Khác với chúng ta đúng không bác? Càng thấy giá cao càng thích, thậm chí giá đã trượt khỏi đỉnh tăng trưởng từ lâu mà vẫn luyến tiếc”
  • “Những ví dụ khác cháu không dám đề cập. Chỉ riêng ví dụ về BHS cháu sẽ lấy làm minh họa và nói kỹ. Do họ thực hiện một cách quá lộ liễu, vì tình thế quá cấp bách và quy mô của BHS nhỏ, không đủ che dấu hành động của họ. Khi giá của BHS bắt đầu vượt qua vạch đỏ là họ bắt đầu quá trình stop của mình. Bắt đầu bán ra, thủ thuật này gọi là phân phối (bán ra) ngay trong quá trình tăng trưởng. Khi giá đạt đỉnh, nhiều người trong chúng ta vẫn chưa chịu tin là đỉnh đúng không ạ? Nhưng họ đã dự đoán được từ lâu. Khi giá đã trượt khỏi đỉnh tăng trưởng thì họ sẽ bán khéo léo hơn sao cho khi giá trôi xuống dưới vạch đỏ thì quá trình stop hoàn thành. Bác có thể kiểm tra lại và thấy rõ khối lượng cổ phiếu bán ra tăng vọt ở 2 vòng tròn đen cháu đánh dấu bến dưới”
  • Khác nhau về tư duy bác ạ. Với nhà đầu cơ nhỏ của chúng ta thì cứ phải đạt đỉnh, qua đỉnh rồi mới gọi là loss. Còn họ thì giá bán ra mới là quan trọng. Giá 65 nghìn thì bên này đỉnh hay bên kia đỉnh cũng vẫn là 65 nghìn.

Cái này cháu tôi giải thích rõ ràng quá, đành phải chịu vậy. Nhưng đầu óc bảo thủ của tôi vẫn chưa chịu tin là mình đã loss:

  • Thế bây giờ họ đã lỗ đúng không? Họ phải tìm cách giảm lỗ chứ, phải cứu thị trường chứ?

Cháu tôi lắc đầu:

  • Thôi cháu lại phải giải thích vậy.

3. Quan điểm về lỗ – lãi của các định chế tài chính

Họ là những định chế được tổ chức chặt trẽ, nên tiêu chí lỗ – lãi của họ có tiêu chuẩn rõ ràng:

  • Chỉ đánh giá sau khi đã kết thúc năm tài chính
  • Kế hoạch trong năm tài chính được xây dựng rõ ràng. Hoàn thành kế hoạch là cơ sở quan trọng để đánh giá năng lực của CEO.

Các tiêu chí phụ để đánh giá năng lực của CEO

  • “Thị trường có tăng thì có giảm. Họ không duy ý chí như mình, cứ phải tăng mãi cơ! Có năm thị trường tăng trưởng cực tốt, có năm suy thoái. Năng lực của CEO đánh giá qua việc khi thị trường tăng trưởng thì mức tăng trưởng của định chế tài chính phải cao hơn (càng cao hơn càng tốt) mức tăng trưởng bình quân chung của thị trường, cao hơn mức tăng trưởng của các định chế tài chính khác cùng đẳng cấp. Ngược lại cũng thế khi thị trường suy thoái thì mức suy giảm của định chế tài chính phải thấp hơn (càng thấp hơn càng tốt) mức suy thoái bình quân chung của thị trường, thấp hơn mức suy thoái của các định chế tài chính khác cùng đẳng cấp”
  • “Khả năng xử lý tình hình của CEO để đạt kết quả tốt nhất trong tình hình thực tế của thị trường. Thị trường tăng trưởng thì tối ưu hóa lợi nhuận, thị trường suy thoái thì giảm đến mức thấp nhất tổn thất”

Thấy tôi đăm chiêu, cháu trai tôi nói:

  • “Thôi để cháu lấy ví dụ cụ thể vậy. Bác đọc kỹ tiểu sử của Buffet rồi phải không ạ? Bác có để ý một số mốc quan trọng trong cuộc đời lừng lẫy của ông không? 1962 – Kiếm được những triệu đô la đầu tiên. 1970 – Kiếm được 25 triệu USD và rút khỏi thị trường đến năm 1974. Hiện nay tài sản ước đạt trên 40 tỷ USD. Bác thấy có gì đặc biệt không?”
  • “Bác đọc kỹ rồi. Ông ý cứ mua rồi để đó thế là lãi to”
  • “Trời, bác bảo là đọc kỹ mà nhận xét thế thì chết rồi. Bác để ý nhé từ 1962 đến 1970 là 8 năm. Ông Buffet tăng tài sản của mình lên khoảng 10 lần. Từ 1974 đến nay là 33 năm ông Buffet tăng tài sản của mình lên khoảng… 1.600 lần. Nói một cách đơn giản là ông Buffet đầu tư lâu dài vào cổ phiếu. Cổ phiếu tăng giá trị thì tài sản của ông tăng đúng không ạ? Rổ cố phiếu của ông phải tăng 1.600 lần. Cái tăng nhiều bù cái tăng ít. Tức là phải có cổ phiếu tăng 2 – 3.000 lần. Bác xem trong suốt thời gian 1974 đến nay có cổ phiếu nào tăng tới 300 lần không? Kể cả trong cơn sốt bong bóng dot.com cũng không có cổ phiếu nào tăng nổi quá 300 lần”
  • “Ờ lạ hén, không có cái gì tăng quá 300 lần mà ông ý tăng được 1.600 lần”
  • “Vâng! Từ 1962 – 1970 tuy là một nhà đầu tư giỏi nhưng Buffet chưa thực sự thu hút được sự chú ý của giới tài chính. Chỉ sau khi rút lui khỏi thị trường tài chính, bảo toàn nguồn vốn trong cuộc khủng hoảng 1970 – 1973, quay lại đầu tư năm 1974 và gặt hái thành công rực rỡ bắt đầu từ năm 1976 thì Buffet mới mở được cánh cửa nguồn vốn của thị trường tài chính Mỹ. Buffet rút lui năm 1970, quay lại đầu tư 1974 với việc mua vào cổ phiếu các công ty rất tốt với giá rẻ bằng 1/2 năm 1970 thậm chí có nhiều cổ phiếu rẻ 1/6 – 1/8. Từ năm 1962 – 1970 ông chỉ tự đầu tư bằng vốn của mình nên chỉ tăng tài sản từ vài triệu USD lên 25 triệu. Nhưng từ 1976 trở đi, giới tài chính coi Buffet là Midas, chạm vào đâu là ở đó chính là mỏ vàng, nên mọi cánh cửa nguồn vốn đều mở ra trước mắt ông. Ở Việt Nam cũng vậy, những cách xử trí tình huống khéo léo của CEO sẽ được đánh giá rất cao và có khả năng mở được hầu bao của những nguồn vốn lớn. Bác đừng nên nhìn quá gần vào mấy chuyện lỗ lãi trong vài ba tháng”
  • “Ờ, thì bác già rồi, chỉ nghĩ được đến tiền chợ cho bác gái ở nhà thôi. Nhưng bác vẫn không thể hiểu nổi, sao các định chế tài chính hiện nay cứ mua vào, sao không chờ giá rẻ hơn mà mua?” 
  • 4. Tại sao các định chế tài chính bắt đầu mua vào khi giá giảm. Sao không chờ thật giảm hãy mua?
  • “Để trả lời cho câu hỏi này, bác và cháu lại phải quay về đọc kỹ mục 13. Ta nghiên cứu thị trường để có cái nhìn về tương lai, chứ không phải ngồi đó mà xuýt xoa: giá mà, ước gì tôi mua cổ phiếu năm 2003 – 2004. Bác không thể đi ngược thời gian về lại thời kỳ tích lũy 2004 đúng không ạ? Cũng như bác không thể ngồi đó chờ đợi đến đáy của xu thế cấp 1 suy thoái sắp tới đúng không bác? Vì thực ra chưa ai có thể nói được bây giờ có thể là suy thoái không? và đợt suy thoái thật sự bao giờ sẽ tới?. Nên nếu bác là các tổ chức lớn, bác vẫn bước vào thị trường bình thường. Lúc đó bác sẽ vừa xây dựng danh mục, vừa đầu tư, vừa đầu cơ, vừa tái cơ cấu dựa trên sự vận dụng xu thế thị trường cấp 2. Tại sao họ bắt đầu mua vào? Bởi một lý do rất đơn giản: họ đã …. bán ra trước đó. Bán ra trước thì phải mua lại sau để lập lại danh mục”
  • “Thế tại sao họ mua vào mà giá vẫn giảm?”
  • “Bác cứ hình dung thế này. Khi các định chế lớn bắt đầu bán ra tức là nguồn vốn đối ứng của những nhà đầu cơ nhỏ như bác bắt đầu cạn. Đây là tiêu chí rất quan trọng đấy bác ạ! Họ chỉ bán khi sức cầu sắp cạn và giá chuẩn bị bước vào đỉnh tăng trưởng cao nhất. Sau quá trình bán – mua như vậy thì nhà đầu cơ nhỏ ôm toàn cổ phiếu và còn rất ít tiền. Các định chế tài chính lớn quay lại là người nắm nguồn vốn.Tất nhiên là họ phải quay lại mua để bổ sung cho danh mục đã bán đi trước đó. Nhưng họ mua một cách chọn lọc và bình tĩnh nên giá vẫn cứ giảm”
  • “Sao họ không chờ cho giá thật giảm hãy mua?”
  • “Thì như cháu đã nói, nguồn vốn của họ rất lớn, khi họ bán thì họ sẽ bán trong một khoảng giá nào đó, khi mua họ cũng bắt đầu mua trong một khoảng giá nào đó. Nhưng ở đây là họ mua trở lại cho danh mục nên họ mua rất chậm rãi. Bác đừng nên hy vọng họ mua là giá sẽ tăng”
  • “Thế sao họ không tranh nhau mua?”
  • Vì ai cũng có phần bác ạ. Thực chất họ đang mua lại chính những cổ phiếu họ đã bán ra. Chẳng hạn định chế A bán ra 8 triệu cổ phiếu, B bán ra 12 triệu, C bán ra 11 triệu mà cổ phiếu vẫn nằm trong thị trường, có chạy đi đâu. Nguồn cung đủ mà bác! Ai mua lại của người nấy thôi mà, sao phải tranh nhau?”
  • “Thế thị trường có tăng trở lại không cháu?”
  • “Sau giai đoạn mua để bổ sung lại danh mục, giai đoạn này giá vẫn cứ giảm theo quán tính thị trường bác ạ. Sau đó họ bắt đầu giải ngân nguồn vốn mới. Lúc đó thị trường mới lên được”
  • “Mệt quá cháu nhỉ, thế bao giờ thị trường xuống đến đáy hả cháu?”
 

Author: Big_hand

1 bình luận về “80 sai lầm của nhà đầu tư nhỏ lẻ – Phần 6 – Quy tắc cắt lỗ”
Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *